Phát triển bền vững ngành điều
14:52 - 14/12/2017
Sau gần 30 năm tham gia xuất khẩu, ngành điều Việt Nam không ngừng phát triển lớn mạnh, năm 2006, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điều nhân lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, hiện ngành điều đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là còn đe dọa tới sự phát triển bền vững của ngành này.

 

Năng suất, chất lượng chưa tương xứng tiềm năng

Theo số liệu thống kê và báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) các tỉnh, diện tích cây điều cả nước năm 2017 là hơn 300 nghìn ha, tăng gần 9.000 ha so với năm 2016. Như vậy, diện tích điều của Việt Nam sau tám năm giảm liên tục (từ 440.000 ha năm 2007 xuống còn 290.000 ha vào năm 2015), đến năm 2016 đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Chuyên gia phân tích thị trường Lê Văn Liền cho rằng, diện tích trồng điều sụt giảm trong những năm gần đây đã hạn chế khả năng tăng sản lượng để phục vụ nhu cầu chế biến trong nước, nhất là trong bối cảnh các doanh nghiệp chế biến điều thiếu nguyên liệu và phải nhập khẩu điều thô từ bên ngoài. Do thiếu nguyên liệu, ngành điều ngày càng phụ thuộc vào điều thô nhập khẩu từ các quốc gia Tây Phi, Cam-pu-chia. Tỷ lệ điều thô nhập khẩu vì thế có xu hướng tăng, năm 2007 tỷ lệ này là 39%, nhưng đến năm 2014, tỷ lệ này là 62,5%. Năm 2016, trong số 1,5 triệu tấn điều nguyên liệu đưa vào chế biến thì đã có tới 1,025 triệu tấn hạt điều phải nhập khẩu (chiếm gần 70%).

Việc lệ thuộc điều nguyên liệu nhập khẩu đã gây ra nhiều khó khăn bởi hiện nay, sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được từ 20 đến 25% nguồn nguyên liệu chế biến. Vì thế, nguồn cung điều thô thế giới những năm gần đây không tăng là một thách thức lớn đối với ngành chế biến và xuất khẩu điều của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của nguồn cung điều hằng năm chỉ đạt 3,5%/năm, trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng trưởng là 6%/năm. Tình trạng cầu vượt cung, dẫn đến giá điều tăng, giá điều thành phẩm tăng, đã khiến người tiêu dùng chuyển dần sang các sản phẩm thay thế. Trong khi đó, là quốc gia xuất khẩu điều nhân lớn nhất thế giới và chủ yếu phải nhập điều thô từ các nước, Việt Nam chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp từ những biến động tiêu cực của thị trường.

Để nâng cao năng suất, chủ động nguồn cung tại chỗ không phải là việc dễ dàng. Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NN và PTNT) Nguyễn Hồng Sơn cho biết, hiện nay diện tích điều già cỗi, lẫn giống sinh trưởng kém chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 80 nghìn ha ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Điều đáng nói, phần lớn diện tích này đã được quy hoạch, thuộc vùng sản xuất tập trung có điều kiện khí hậu, đất đai, cơ sở hạ tầng phù hợp cho phát triển cây điều, nhưng năng suất bình quân lại thấp, hiệu quả sản xuất không cao. Điều này đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của ngành điều. Cùng với đó, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng nặng nề. Tình trạng hạn hán, mưa trái mùa tác động rất lớn đến cây điều, chưa kể sự xuất hiện của sâu bệnh làm giảm năng suất, khiến nông dân nghèo thiếu vốn đầu tư. Đơn cử năm 2016 sản lượng điều của nước ta giảm 16,67% so với 2015. Sang năm 2017, người trồng điều tiếp tục gặp khó khăn, khi sản lượng giảm 31,36% so với năm 2016. Ngoài ra, sản xuất điều ở nước ta phân tán, trình độ thâm canh chưa cao, với diện tích điều tập trung chiếm 61,7%, diện tích điều phân tán chiếm 38,3%. Bên cạnh đó, cơ cấu giống điều chưa phù hợp, chọn tạo giống chưa được quan tâm đúng mức. Cụ thể, từ năm 1999 đến nay mới có 13 giống điều được chọn tạo và công nhận cho sản xuất thử, chưa có giống được công nhận chính thức cho sản xuất.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cho biết, cả nước có hơn 300 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu điều, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp có kim ngạch dưới năm triệu USD/năm. Do thiếu vốn, phần lớn doanh nghiệp chưa đầu tư được dây chuyền công nghệ chế biến đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, mới chỉ dừng ở mức độ sơ chế, gia công thô, dẫn đến hàng hóa không có thương hiệu, thiếu sức cạnh tranh. Trong khi đó, nước ta chủ yếu xuất khẩu điều vào các quốc gia phát triển, có yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng cao. Do vậy, khả năng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm kém sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Chuyên gia phân tích thị trường Lê Văn Liền cho biết, mặc dù là nước xuất khẩu điều lớn nhất thế giới, Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sơ chế, tương đương 18% chuỗi giá trị điều, còn phần lợi nhuận lớn nhất vẫn nằm ở khâu chế biến rang muối và phân phối với tổng giá trị gần 60%.

Sản xuất theo quy trình, công nghệ hiện đại

Theo Bộ trưởng NN và PTNT Nguyễn Xuân Cường, ngành điều Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển vì nhu cầu người dùng ngày một tăng. Tuy nhiên, ngành điều đang đối mặt với ba thách thức lớn, đó là nguyên liệu, chế biến và tiếp cận thị trường. Trước hết, phải dồn toàn lực cho sản xuất nguyên liệu. Đây là nút thắt của ngành điều và muốn làm được điều đó phải có sự vào cuộc quyết liệt từ T.Ư tới địa phương.

Bàn về giải pháp phát triển ngành điều bền vững, nhiều chuyên gia cho rằng, năng suất điều có thể tăng từ 30 đến 40% nếu áp dụng đồng bộ khoa học và công nghệ tiên tiến trong canh tác. Theo Cục trưởng Trồng trọt Nguyễn Hồng Sơn, để nâng cao năng suất, chất lượng cây điều thì việc tái canh, nâng cao chất lượng giống điều, trồng mới là một trong những biện pháp quan trọng nhất. Thực tiễn cho thấy, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh năng suất điều tăng từ 24 đến 63% và nâng cao được hiệu quả sử dụng đất; thâm canh còn giúp vườn cây thích ứng tốt biến đổi khí hậu, hạn chế ảnh hưởng của mưa trái mùa. Quy mô, phạm vi mở rộng thâm canh điều còn rất lớn, chi phí không cao. Để tăng hiệu quả, cần phải đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thâm canh, tái canh và ghép cải tạo hướng dẫn người dân phòng trừ dịch hại. Chính quyền các địa phương cần thúc đẩy việc hình thành tổ chức sản xuất của người trồng điều, các đơn vị có liên quan vận động các doanh nghiệp xúc tiến liên kết, xây dựng vùng nguyên liệu, cánh đồng lớn.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây điều (Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam) Trần Công Khanh cho rằng, đầu tư khoa học và công nghệ là một trong những yếu tố mang tính quyết định. Nguồn nhân lực khoa học cần được quan tâm hàng đầu. Bên cạnh đó là chính sách, nhất là mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân. Quy hoạch vùng trồng điều thuộc diện quản lý theo lâm nghiệp, vùng quảng canh, vùng thâm canh để có chính sách đầu tư thỏa đáng. Hạn chế đến mức thấp nhất việc trồng điều bằng hạt, phát triển kỹ thuật ghép điều. Khuyến khích doanh nghiệp trích lợi nhuận hỗ trợ sản xuất điều ghép cho vùng điều nguyên liệu. Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất và mua bán giống điều ghép để hạn chế mua bán giống điều không rõ nguồn gốc (đây là vấn đề chính để có vườn điều chất lượng cao). Tiến tới xây dựng cánh đồng mẫu sản xuất điều, các hợp tác xã kiểu mới để sản xuất điều thâm canh. Hình thành liên kết sản xuất giữa nông dân để tạo thành những vùng nguyên liệu tập trung có sản lượng và chất lượng cao, tiến tới xây dựng mô hình sản xuất điều có chứng nhận nhằm nâng cao chất lượng và giá trị, giữ vững thương hiệu điều Việt Nam.

Đến năm 2020, ổn định 300 nghìn héc-ta điều, sản lượng 450 nghìn tấn; vùng trọng điểm 200 nghìn ha ở bốn tỉnh (Bình Phước 135 nghìn héc-ta, Đồng Nai 40 nghìn héc-ta, Bình Thuận 17 nghìn héc-ta, Bà Rịa - Vũng Tàu 8.000 héc-ta), các vùng khác 100 nghìn héc-ta; tái canh và ghép cải tạo 60 nghìn héc-ta tại các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Gia Lai, Bình Định.

Nguồn: Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT)

Nguồn: Nhân Dân
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email

Bài đọc nhiều nhất

ĐBSCL: Mua tạm trữ 760.000 tấn gạo